Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010

CHU ÂN LAI ở GENÈVE 1954

" Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam" của Nguyễn Phú Đức, người mà từ năm 1967 đã giữ chức cố vấn đặc biệt về ngoại giao cho Nguyễn Văn Thiệu, từ 1973 kiêm chức Tổng trưởng Ngoại giao. Đây là một tài liệu tham khảo có giá trị về chiến tranh VN. Về những vấn đề có liên quan đến Hội nghị Genève 1954 , đánh giá âm mưu của Mỹ , tác giả cho rằng " Hoa Kỳ đã chọn nhầm đối thủ" bởi vì khi cho rằng kẻ thù chủ yếu là Trung Quốc, Mỹ đã đánh giá quá thấp VN- coi VN chỉ là một chư hầu của TQ cũng như các nước Đông Âu do Liên Xô lập nên. Đánh giá cao cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân VN , tác giả cho rằng : " Khi Hồ Chí Minh nắm chính quyền ở VN 1945 thì Mao Trạch Đông và những người theo ông vẫn ẩn náu trong các hang núi ở Diên An miền Bắc Trung Hoa và đang bị quân đội Tưởng truy đuổi.Vậy chiến tranh VN không phải là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm (war by proxy) do Trung Quốc tổ chức và chư hầu VN thực hiện như hầu hết người Mỹ đã tin như vậy." Cũng như vậy tác giả cuốn sách đánh giá những ưu thế mà Việt Minh đã giành được từ sau Điện Biên Phủ, ở miền Bắc, Việt Minh có 12o tiểu đoàn đối đầu với 80 tiểu đoàn Pháp, miền Trung, VM đã đánh bại chiến dịch Atlante của Navarre. chiến tranh du kích phát triển mạnh ở miền Nam, Lào đã nằm trong sự kiểm soát của VM bởi ĐBP căn cứ kiểm soát con đường sang Luông Phabăng và Viên Chăn đã thất thủ, ở Căm pu chia lực lượng Issaraks do VM chỉ đạo đang nắm ưu thế so với lực lượng của Sihanouk và Pháp. Từ đó tác giả cuốn sách cho rằng " với những con bài có trong tay, Phạm văn Đồng-Trưởng phái đoàn VM tại Genève muốn có hòa bình để đảm bảo cho VM trong thời gian ngắn có thể kiểm soát được không những cả nước VN mà còn trên toàn bộ Đông Dương. Với mục đích trên , lập trường của VN là ngừng bắn trên toàn cõi DD , thừa nhận các lực lượng Pathet Lào và Khome Issarak ở những vùng đất họ đang kiểm soát, giải quyết đồng bộ cả hai giải pháp chính trị và quân sự. Trong khi đó lập trường của TQ hoàn toàn đi ngược lại với VN, cuốn sách cho biết chi tiết hoạt động của Chu Ân Lai tại Genève trong thời điểm này. Ngày 16 tháng 6 Chu Ân Lai yêu cầu gặp A. Eden, Ngoại trưởng Anh, đồng Chủ tịch Hội nghị Genève đề nghị tách Lào, Căm pu chia ra khỏi vấn đề VN, rút hết. quân đội nước ngoài ra khỏi hai nước này( không loại trừ VM), trong khi đó TQ không phản đối việc duy trì nhân viên quân sự Pháp làm công tác huấn luyện ở Lào, đồng thời chấp nhận sự tồn tại của hai căn cứ quân sự của Pháp ở Seno và Savanakhet Ngày 17 tháng 6 những đề nghị trên được khẳng định với Ngoại trưởng Pháp G.Bidault, Chu Ân Lai cũng đề nghị hội đàm với M.France- Tân thủ tướng Pháp vào ngày 23 tháng 6, lần này Chu nhấn mạnh vấn đề quân sự phải được ưu tiên hơn so với giải pháp chính trị, hơn thế nữa " Chu nói thêm ông sẵn sàng thừa nhận quốc gia VN của cựu hoàng Bảo Đại và chủ trương sự chung sống hòa bình giữa hai VN, một cộng sản và một quốc gia." Cũng theo tác giả, trong thời điểm này thông qua Chu, TQ cũng muốn khai thông quan hệ với Mỹ, nhưng với ý đồ giảm nhẹ vai trò của Hội nghị Genève, cho nên Ngoại trưởng Mỹ J.F.Dulles không có mặt tại Genève, vì vậy Chu Ân Lai đã ủy quyền cho Hoàng Hoa thông báo cho B.Smith Phó Quốc vụ khanh, Phó trưởng đoàn Mỹ đề nghị của TQ về chủ trương ký một hiệp định đình chiến và chia cắt VN làm hai vùng lãnh thổ,một dưới quyền Việt Minh của Hồ Chí Minh và một dưới quyền của quốc gia VN đồng minh của phương Tây lúc đó do Cựu hoàng đế Bảo Đại làm quốc trưởng. Hơn thế nữa Chu còn đề nghị Mỹ csùng với TQ đảm bảo một kế hoạch chia cắt và trung lập hóa Đông Dương. Mỹ đã không hiểu ý đồ của TQ muốn có một VN suy yếu và bị chia cắt, hơn nữa Mỹ nghi ngờ lòng thành thật của TQ cho nên đã tẩy chay và không tiếp xúc. Các chính sách của TQ đối với Đông Dương còn được tác giả cuốn sách cho biết chi tiết thông qua quan hệ của Chu Ân Lai với Ngô Đình Luyện-đại diện cá nhân Ngô Đình Diệm. Chính Ngô Đình Luyện đã kể lại với tác giả như sau: " Vào hôm sau khi ký hiệp định Genève , ông Luyện nhận được giấy mời do một phái viên của Chu Ân Lai- một cử chỉ lễ tân Á Đông cho các vị khách quý, mời ông đến ăn tối cùng với một trong những người bạn cũ ở Bắc VN. Ông Luyện rất ngạc nhiên khi nhận được lời mời của đích thân Thủ tướng Trung Hoa Cộng sản lúc đó vẫn được coi là địch thủ khắc nghiệt của VN quốc gia. Như đã hẹn trước Ngô Đình Luyện đã được Chu đón tiếp nồng nhiệt, còn " Người bạn cũ" là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng VN Tạ Quang Bửu và người đến sau là Trưởng phái đoàn VNDCCH Phạm văn Đồng. Tác giả cho biết với một cử chỉ lịch sự ông Đồng hỏi thăm sức khỏe Ngô Đình Diệm. Bữa ăn tối diễn ra xung quanh một chiếc bàn tròn, bên cạnh Phạm văn Đồng là Ngô Đình Luyện và Chu Ân Lai, câu chyện xoay quanh cố đô Huế, khi Luyện nói rằng : Cung điện Huế được xây dựng theo mô hình Cố cung ở Bắc Kinh, nhưng đã bị phá hủy vào năm 1945 ( ý muốn phê phán CMT8), Chu Ân Lai cài thêm " Vậy tại sao ông không đi Bắc Kinh để nhìn tận mắt Cố cung,vì chúng tôi đã giữ nguyên như cũ, không phá hủy nbó" Tác giả cuốn sách cho biết Phạm văn Đồng đã giật mình trước lời mời của Chu đối với Luyện, "Làm sao tôi có thể đến Bắc Kinh vì tôi là em của Thủ tướng Ngô Đình Diệm và là đại sứ của ông ấy" -Luyện nói. Ngay lập tức Chu khẳng định:" Ông sẽ đến như khách mời của tôi...ông sẽ đến để đại diện chính phủ ông tại Bắc Kinh" Nhận định của tác giả, đây là điều quá đáng đối với Phạm văn Đồng và phản ứng của ông là kịch liệt phản đối việc Bắc Kinh chính thức công nhận có hai Việt Nam. Sau đó Chu Ân Lai có đề nghị trao đổi cơ quan đại diện với Sài Gòn nhưngNgô Đình Diệm đã không chấp nhận. Cuốn sách còn cho biết nhiều thông tin rất thú vị, các bạn đọc chơi cho vui

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010

Lan man Huế 5


Lan man Huế 5: tính cách
Khó gần. Đã đành. Nhiều người bảo là “chảnh”, mà chảnh theo lối nhà nghèo, nghĩa là kiết xác nhưng cọng giá phải cắn đôi. Cái lối gì cũng “dạ” của đàn bà con gái còn gây cảm giác không thật. Cái này có liên hệ gì đến chuyện người Huế thành công nhiều trong ngạch ngoại giao? Và phải chăng các chúa Nguyễn vài trăm năm anh hùng nhất khoảnh vẫn vái lạy vua Lê lia lịa, để lại cái “di sản” “nói zdậy mà ko phải zdậy”?
Về câu “Sơn bất cao, thuỷ bất thâm / Nam đa trá nữ đa dâm”, kì đi Huế vừa rồi mình muốn đến chết mà ko dám hỏi nó từ đâu ra, bao giờ. Mấy năm trước gặp Phan Thuận An, một người nghiên cứu Huế nổi tiếng, mình dè dặt: “Cái câu người Quảng Nam dặn nhau “bất giao Thừa Thiên hữu, bất thương Bắc Hà xứ, bất thú Bình Định thê” (đéo chơi với bạn Thừa Thiên, buôn bán với bọn Bắc Hà, lấy vợ Bình Định) là sao, thưa anh…”. Ông ấy cũng nhỏ nhẹ: “Tôi cũng ko biết. Nhưng ngay Huế đây cũng có câu bất giao A, bất thương C, bất thú G”, mà đấy đều là làng này phường nọ ở ngay Huế.
Thu Bồn có câu “Con sông dùng dằng con sông không chảy / sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”, càng nghĩ càng thấy giỏi. Đằng sau vẻ lững lờ là những va đập rất dữ, dẫn đến phản ứng ko ngờ. Có người kể xưa Ngô Đình Thục (hình như thế) muốn làm Hồng y giáo chủ, nhưng Vatican quy định địa phương phải có bấy nhiêu % giáo dân mới được. Bèn huy động quân đội đàn áp, tẩy chay, xua đuổi thậm chí giết ngầm Phật tử. Chiến tranh tôn giáo rồi. Lửa cháy lan ra từ Huế. Quân nhân Phật giáo chống lại. Nhà Ngô băng.
Sau ‘65, bộ mặt các đô thị miền Nam thay đổi từng ngày. Mỹ vào đem theo văn hoá tiêu thụ. Phát hành đô la đỏ chỉ tiêu được ở hệ thống bách hoá PX, cực kì rẻ, hàng đem ra đổi gái dễ quá. Đến nỗi mà đàn ông Đà Nẵng tủi thân vì đẹp đẽ bỏ mình theo Mỹ đen. Nhưng cách đó 7-8 chục cây thôi, lính tráng chòng ghẹo, ôm eo gái Huế bị dân đập ngay. Đấy là bản năng tự bảo vệ thuần phong, chưa phải “ý thức dân tộc” gì gì. Mỹ ko đóng trong đại nội “với đám dân phong kiến”, mà ra Phú Bài, nhà thổ mọc lên dưới mái tôn. “Quất” chắc là tốn mồ hôi lắm, nếu ko có điều hoà.
Văn minh vật chất, lối sòng phẳng trả tiền ngay vẫn xa lạ. Nhà vườn muốn vào xem đến chết mà ko bán vé. Vào được nhưng như thằng ăn trộm, ko có cảm giác “tham quan”.
Những năm tám mươi (?) sư Thích Trí Tựu chùa Linh Mụ phản đối chính quyền rầm rầm, bị bắt, xử án, may sao êm được.
Đường Lê Lợi dọc sông Hương, từ Đập Đá đến ga Huế, khoảng gần 2 cây, là quãng êm đềm, hút khách nhất. Đổi mới, hội nhập, các đô thị xây cất ầm ầm, làm chính quyền sốt ruột. Vài dự án xây cất ven sông để lợi dụng cảnh quan quá tuyệt vời trên, lên khách sạn, nhà cao tầng…, tỉnh đã duyệt, hi vọng tăng giê đê pê, sánh vai SG, HN, đừng để thằng Đà Nẵng háu đá nó vượt. Rồi dư luận phản đối ầm ầm, đơn thư tới tấp. Cuối cùng chỉ có toà bảo tàng Hồ Chí Minh lên được, nhưng đâu như trên nền toà khâm sứ Trung Kỳ bấy nay bỏ hoang. Không phải Cụ thì bố bảo! Một phản ứng hay, ko thế UNESCO nó chẳng công nhận di sản cho, mà du lịch cũng sẽ chẳng có ma nào đến.
Giờ thì vẫn đủng đỉnh đi nhẹ nói khẽ. Không đầu trọc, tắc đường, ít tóc đỏ khẩu trang ninja. Ăn uống gảy gót. Nhưng nói thật, tớ phàm phu, ăn uống phải dòm cách trình bày mâm, khen hoà sắc đẹp nhỉ, rất khó tiêu hoá.

Võ Nguyên Giap - một cách nhìn

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giap đã bước vào tuổi 100.Mang trên vai sứ mạng lịch sử trọng đại như Ông mà sống đc đến vậy là 1 kì tích.Ô thật là 1 bậc đại Qúi-nhân - Trời ban cho Ô tất cả những gì mà mỗi kiếp người , đời này sang đời khác ,hằng và luôn hằng tìm kiếm :THỌ-PHÚC-LỘC (cái chữ Lộc viết hoa theo nghĩa tốt đẹp nhất,đó là vinh quang,ngưỡng mộ và sùng kính của muôn người).
Cuộc đời Ô xiết bao gian truân vất vả - cái vất vả gian truân của thời cuộc - ko chỉ do kẻ thù mà còn do đồng chí - những ng cùng niềm tin , chí hướng với Ô - mang lại. Vinh quang cay đắng nơi Ô người ta đã, đang, sẽ còn nói tới nhiều. Góc nhìn mà tôi muốn mang ra đây cùng chia sẻ với các bạn lại hơi khác 1 chút , có vẻ trái chiều, đó là : với tầm cao của 1 bậc Đại Trí - Đại Dũng- Đại Nhân , VNG liệu "ĐÃ" còn có thể làm được gì nhiều hơn nữa cho quê hương xứ sở hay ko?
Sau 1975 , VN ta đứng trước 1 bước ngoặt to lớn.Bên cạnh thế và lực mới , tăng lên gấp bội , do chiến thắng mang lại, ta cũng đúng trước những khó khăn chồng chất: đất nước bị tàn phá nặng nề,hàng núi công việc đối nội sau chiến tranh .Rồi thì kẻ thù phương Bắc, biên giới Tây nam...,Mĩ và phương Tây cấm vận....
Nhìn lên phương Bắc : vào thời điểm này,TQ sau khi Mao chết đang ngấp nghé bờ vực diệt vong.Những sai lầm trong xây dựng kinh tế và c/m văn hóa đã tàn phá đất nước này, đặt nó trước viễn cảnh nội chiến tan nát chia 5 xẻ 7.
Như vậy có thể nói cả 2 nước , ta và TQ ,đều đang đứng ở vạch xuất phát,cùng khách quan đòi hỏi những cải cách vĩ đại.Vận mệnh quốc gia đang đòi hỏi xuất hiên ,sự ra tay của những con người phi thường ,đại diên sáng chói nhất cho tinh hoa mỗi dân tộc.TQ có Đặng Tiểu Bình, còn VN có ai? người ta tin rằng đó là VNG.
Cuộc đời của 2 bậc vĩ nhân này có những nét tương đồng thú vị.Cùng là những khai quốc công thần - tướng lĩnh hàng đầu - và là những nhà chính trị xuất sắc . ĐTB (1903) khi đó ngoài 70 còn VNG (1911 )- ngoài 60-.Họ đều đang bị " thất sủng" nhưng uy tín trong dân chúng và 1 bộ phận ko nhỏ cán bộ lại cao vời vợi : ĐTB "3 lần ra vào Trung Nam Hải", là cái gai trước mắt lũ "4 tên" - khi đó đang nắm thế thượng phong - còn VNG ko được lãng đạo cao nhất "ưa"+ các đối thủ chính trị khác bao vây ngặt nghèo.....
Thời gian cứ lặng lẽ trôi mà ko chờ đợi.
Ai là người vượt được muôn ngàn chông gai hung hiểm , với những quyết sách long trời lở đất đưa dân tộc mình "vươn dậy sáng lòa" , sánh vai cường quốc , còn ai vẫn đang lúng túng bởi những trói buộc thế thời?
Ai với bản lĩnh chính trị vượt trội đã nhanh chóng đoạt lấy ngọn cờ lãnh đạo,hướng toàn dân đi theo triết lí "đổi mới - cải cách mở cửa" , hữu hiệu, mang tính thời đại ,còn ai ngập ngừng ko quyết đoán. "Dĩ công vi thượng " là phương châm sống tuyệt vời, nhưng phải đâu nó chỉ là chìa khóa cho đoàn kết nội bộ mà hơn thế , phải là chìa khóa cho sự cổ vũ, đoàn kết muôn dân xiết chặt đội ngũ vươn tới chân trời mới ,vươn tới những đỉnh cao mới. VNG đã cực kì xuất sắc ở ĐBP , nhưng phải chăng Ô đã ko vượt qua cái " quyết định khó khăn nhât " trong cuộc đời chính trị của mình là quyết liệt nắm lấy ngon cờ lãnh đạo khi thời cơ đến( 1982,1986 )?.
Để giải thích điều này,ta phải lấy cuộc đời của những nguyên soái lừng danh thế giới ra để tham chiếu , đó là Hàn Tín (thời Hán),Bành Đức Hoài(thời Mao),Giu Côp (thời Khơ Rút Sốp)...Họ là những danh tướng của muôn đời,chỉ huy trăm vạn đại quân ,bách chiên bách thắng.Đó là những con người của những vinh quang chiến trận, khi quân thù trước mặt.Ngược lại, trong chính tri, đăc biệt là chốn cung đình hiểm ác,họ ko đủ sắc sảo , dã tâm ,quyền biến nên ko tránh khỏi thiệt thòi.....Họ là tôi hiền của những bậc minh quân,nhưng là nghững cái gai mà kẻ độc tài phải nhổ.
****
Đọc đến đây chắc có bạn trách tôi sao lại có sự so sánh khập khiễng đến kì quặc như vây? VNG dẫu gì cũng chỉ là 1 con người bằng xương bằng thịt,công lao của Ô đến thế cũng là bằng trời bằng biển rồi , còn đòi hỏi gí hơn nữa?
Qủa đúng như vậy!Nhưng vốn là 1 kẻ ngang bướng,tôi vẫn muốn nói ra đây những suy nghĩ của riêng mình.Âu cũng là bởi quá ngưỡng vọng và tôn thờ Ô - Đại tướng Võ Nguyên Giap - nên tôi vẫn cứ giá như....giá như....!
Trong bài viết này có nhắc tới Đặng Tiểu Bình, và phải chăng quá đề cao ông ta?Với lịch sử TQ đây là 1 vĩ nhân hiếm có, ngàn năm chỉ sinh đc 2,3.Nhưng với VN,ko ai quên đc con người này, kẻ đã gây ra cuộc chiến đẫm máu17/2/1979 gây biết bao tang tóc cho dân ta.Với VN ông là 1 tội đồ!
Đánh giá những bậc vĩ nhân luôn là việc quá sức ngay cả với những bậc thức giả , nên với tôi cái khó chẳng khác lên trời.Cũng bởi vậy sai xót là điều dĩ nhiên,rất mong được bạn bè xa gần chỉ giáo.
Ý cuối cùng tôi muốn nói ở đây là : bài viết này có làm ai đó ko vừa lòng, thậm chí tổn thương thì tôi thật sự xin lỗi !

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Cách tạo bài đăng


Bài viết để đăng được tạo bằng 2 cách :
1. Gõ vào tab ' Viết' trực tiếp từ bàn phím.
2. Dán bài copy từ word vào trang 'Viết'
 Trong tab 'Viết' thao tác xử lý văn bản giống như trong word.
 Chú ý là : các cách trên đều làm ở  tab 'Viết'.
 Vì 'Bài đăng mới' có 2 tab nên dễ không để ý mà đưa bài vào tab 'Chỉnh sửa HTML' làm việc xử lý văn bản không như ý muốn và hình thức trình bầy của bài viết bị sai lạc khi đăng lên blog.
  Muốn tạo bài viết ở tab 'Viết' thì tab 'Viết' phải ở trước tab HTML. Nếu thấy thanh công cụ nằm ngang ở phía trên có nhiều tác vụ bố trí hết chiều ngang thì đó lá tab 'Viết' đang ở phía trước. trong trường hợp thanh công cụ ít tác vụ,thì tab 'Viết' đang ở phía sau,phải kích vào 'Viết' để nó chuyển lên trước.

Tab 'Viết'  ở 'trước' - Tạo văn bản ở đây


Tab 'Viết ' ở sau-Không tạo văn bản ở đây.

Lan man Huế 4

Lan man Huế 4

  Tớ đọc lại mấy “kỳ” rồi, thấy có những điều trùng lặp. Sẽ cố tránh, nhưng có khi vẫn phải nói lại, vì nó là “nhận thức gốc” .
  Thờ cúng: đô thị không nói đến. Nhưng ngay nông thôn, cả nước hẳn ko đâu thờ cúng kĩ như Huế. Ngày rằm ngày một khói nghi ngút, các nhà bưng bàn ra cửa, để đồ cúng, khấn vái xong rắc gạo muối, đốt mã. To nhất là cúng âm hồn người chết ngày thất thủ kinh đô, đâu như 23-5 âm năm 1885, Pháp giết khoảng 1,7 vạn.
  Người Việt lấy đất Chăm nhưng lại thờ thần thánh của người Chăm, một hiện tượng tâm lý hay hay. Thờ thần Đất, nữ thần Pô Nagar đã “Việt hoá”.
  Ngoài thờ còn kiêng kị đủ thứ. Nhà có bình phong xây đằng trước, đắp chữ Phúc, để che chắn. Xem hướng nhà. Mồ mả to kinh khủng, phải nghĩ là “người chết ăn hết của người sống” mất. Lập ra “nước ĐÀng Trong” khi ĐÀng ngoài còn vua Lê, Nguyễn Hoàng hẳn phải có tâm lý mình là phản thần. Đạo Nho đề cao trung quân, để trị nước ở tầm vĩ mô thôi, chứ trong dân chúng thì khuyến khích xây chùa vô kể. Phật không khiến người ta nghĩ ai phản ai trung nhiều lắm mà. Họ lớn như Nguyễn Khoa – có Hải Triều Nguyễn Khoa Đăng, bố Nguyễn Khoa Điềm – còn làm chùa riêng.
  Một thầy chùa giải thích sự sụp đổ của gia đình Ngô Đình Diệm năm 63 là dựa vào Công giáo chèn ép, gây bất bình trong đám quân nhân Phật giáo. Thế Dương Văn Minh có phải lớp này?
  Quê Bắc, cột nhà viết chi chít ngày giỗ trong năm, trông đã kinh. Có những bà cô vừa lọt lòng đã chết, tám chục năm sau cháu vẫn phải “đi” con gà đĩa xôi mới được. Nhưng với Huế chưa là cái đinh mục. Chắc thế nào cũng còn người đủ “ngũ đại mai thần chủ”, nghĩa là giỗ đến năm đời. Hành Thiện quê TL nổi tiếng kỹ, có thế được ko?
  Trí thức độc lập: Tức là người có chữ, vẫn nghiên cứu nhưng ko ăn lương nghiên cứu viên của viện này, trường nọ. Có người là cử nhân thời cũ, có người bố để lại vốn Nho học. Sau 75, họ “hoá thạch” với vốn tri thức của mình, cứ thế đào sâu những chuyên môn rất hẹp. Tớ đã hình dung Huế như con tàu năm 45 dừng lại, ko chạy nữa, hành khách trên đó vẫn nguyên vị (như Hà Đông nói, tất nhiên ngày càng mất dần sự độc đáo). Ko được đi đây đó, cập nhật kiến thức, phương pháp, họ khó khái quát, so sánh đến một tầm nào đó, nhưng rất sâu. Nghiên cứu những củ tỷ chỉ vài trăm người quan tâm: thơ đề trên đồ gốm sứ, chơi chữ trong thơ cung đình…
  Độc lập ko có nghĩa là ghét chế độ đương thời. Mà chỉ đủng đỉnh, ra điều ko nhập thế. Nhưng lúc cần, ông này thò ra tờ giấy dó chứng minh đồi Vọng Cảnh nằm trong trục tâm linh, tức trong di sản UNESCO công nhận, thế là dự án khách sạn phải bỏ. Và ông khác lục trong nhà tờ lệnh vua lập đội khai thác Hoàng Sa, Trường Sa tặng nhà nước. Thế thôi, lại rút vào trầm ngâm. Chả cần ra sách. Năm một đôi lần tham gia giảng khoá học cho nhà chùa. Rành chữ cổ kinh khủng, biết cả Phạn, nhiều tiến sĩ mới phải đến hỏi (giới sử Bắc hình như chỉ ông Hà Văn Tấn biết chữ Phạn, còn Phan Huy Lê chữ Hán lỗ mỗ). Sau 75 thuyền múc cát sỏi dưới sông Hương vớt theo nhiều đồ cổ, họ mua về để đầy nhà, sáng pha ấm chè ngắm nghía, ko bán. Tớ đã ngồi giữa một “đống” bình vôi, ấm, cối giã trầu, chiêng choé, nồi đồng.. như thế.
  Tớ để ý đến họ vì “hình như” HN chỉ có loại trí thức công chức. Nhiều người giỏi, được trang bị tận răng, sinh viên nhặt tư liệu cho, trao đổi với nước ngoài nữa, tức là đạt đến tầm cao rồi. Nhưng sâu và hẹp, “cả đời chỉ ngắm nghía một cái mùi soa” thì chưa thấy. TRí thức HN nói chung khôn ngoan tỉnh táo, ít người gàn. Những ông dậy trung học rồi đi viết sử xã lấy tạ gạo, đôi lốp xe đạp thì chưa gọi là trí thức được. Huế có những ông “duy Huế”, cái gì cũng chỉ Huế mới có, có ông mới ngoài ba mươi. Lại có ông rất phóng khoáng. Tự Đức đề cao văn thơ Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát (người miền ngoài) và hai ông hoàng Miên Trinh, Miên Thẩm, ông ấy bảo hai ông hoàng so thế nào được với Siêu Quát.
  Kì vừa rồi, tớ mới chỉ gặp vài ông tương đối cởi mở, chưa biết được ông “gàn dở, dị bọ” nào. Mà có gặp cũng khó biết cách nói chuyện. Tưởng tượng họ như cái kho chìa khoá cất rất kỹ, nhưng khi mở ra được thì “của nả” tuôn ra ghê lắm.
  Mà cái nghề của mình thì đi đâu gặp ai như thằng ăn trộm, chỉ chuồn chuồn đạp nước. Đi tỉnh khác thi thoảng gặp ông đọc lắm lắm nhưng ra chiều táo bón, tức là ko có đầu ra cho những thứ nốc vào…

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2010

Lan man Huế 3


Lan man Huế 3
Cuộc chạy trốn của Nguyễn Hoàng
- Sử ta lâu nay né tránh từ “Nam tiến” để chỉ quá trình mở rộng về Nam của tộc Việt. Tên bà Huyền Trân, công chúa đời Trần được vua Anh Tông gả cho vua Chiêm Chế Mân để lấy hai châu Ô, Rý - Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế giờ, ở Hà Nội, Huế đều bị đổi sang Bùi Thị Xuân. Huế nay đã lấy lại tên ấy, đặt sang chỗ khác, nhưng HN thì chưa.
Giải thích, là sợ mâu thuẫn dân tộc. Nhưng tộc Chăm cơ bản đã đồng hoá cả rồi còn gì. Ông Huỳnh Văn Nghệ chả bảo quá trình “mở cõi” phải “mang gươm” rồi còn gì. Và còn một sách lược mở cõi nữa, là “mang bướm”. Bà Huyền Trân là một. Sau chúa Nguyễn gả công chúa Vạn Ngọc (đúng ko Lê Công?) cho vua Phù Nam hay Xiêm hay Chân Lạp gì đấy, lấy được vùng Hà Tiên hiện nay. Thật ra thì gươm, bướm phối kết hợp với vài thủ đoạn ngoại giao khác, mới cho ra giải đất hình chữ S được.
- TK 15, Lê Thánh Tông đánh tới Bình Định, Phú Yên rồi rút về. Qua vùng đất phương Nam rộng rãi, ngài đặt là Quảng Nam.
-. TK 16 thật lộn xộn. Nhà Lê quá tệ, với những “Vua Quỷ”, “Vua Lợn”, dân đặt cho. Họ Mạc chiếm Thăng Long. Trịnh Kiểm đưa vua Lê vào Thanh, đặt Tây Đô, chèn ép vua. Kiểm là con rể Nguyễn Kim, chồng Ngọc Bảo, nhưng giết con N. Kim là Nguyễn Uông. Em Uông là Nguyễn Hoàng sợ quá nhờ chị xin anh rể được đi đày vào Thuận Hoá. Ai mà ngờ cuộc chốn chạy năm 1588 ấy mở ra một chương kì vĩ trong lịch sử Việt.
- Bấy giờ có một nhân vật trí thức gộc, nhưng tham chính ít lâu thì bỏ về quê Vĩnh Bảo, sống ẩn dật mà thế lực nào cũng phải nể, bởi tài xem vận số: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông này khuyên Nguyễn Hoàng “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, tức là chạy về Nam, qua Hoành Sơn là xong béng. Sứ giả chúa Trịnh đến hỏi ý kiến, ko tiếp, sáng hôm sau vừa quét sân vừa lẩm bẩm “Muốn ăn oản thì phải thờ Phật chứ!”. Nhờ thế mà vua Lê không bị truất. Và Trịnh, đầy quyền lực, ko bị mang tiếng diệt đương triều. Bảo là vận mạng cũng phải, mà tôi có danh chính, anh có thực quyền, hai ta dùng nhau, cũng phải. Cứ thế được vài trăm năm.
- N. Hoàng mở ra giai đoạn 9 chúa 13 vua. Cự lại Trịnh, Mạc, diệt các tiểu quốc Chăm, cho quân giết đàn ông lấy đàn bà. Quân chúa Nguyễn đa số Thanh Nghệ, tợn tạo, nhiều du thủ du thực, nhưng vô đây phải ớn lạnh: đến đây đất nước lạ lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng kinh. Chiếm đất, đồng hoá, đồng thời thờ luôn nữ thần Pô Nagar của người ta, “phiên” sang tiếng ta là Diễn Ngọc Phi Thiên Y a na, thờ ở Hòn Chén, phía trên chùa Thiên Mụ. Đây là quá trình “hoà trộn” văn hoá, tôn giáo rất chi tế nhị. Người Chăm ắt phải ngơ ngác lắm, giống đồng bào Tây Nguyên giờ cứ nghe câu “bảo vệ văn hoá bản địa” nhưng chả thấy ai ngăn cản di dân tự do sất.
Rồi Nguyễn Ánh thua Tây Sơn, chạy vào Gia Định. Tây Sơn diệt Trịnh, diệt luôn Thanh xâm lược, lên ngôi thay nhà Lê. Anh em lục đục hở lưng, Ánh quật lại, lấy được nước. Lại tiến về phía Nam lấy nốt Hà Tiên…
Đấy là một quá trình vừa chiếm đoạt vừa khai mở. Cả hai sắc thái này chắc mới được giảng ở đại học, chứ chưa ghi trong kiến thức phổ thông. Người ta ngại dùng hai chữ “Nam tiến”.

Đây thôn Vĩ dạ

 TC nhắc đến thôn Vĩ dạ,không đừng được lại nhớ đến bài thơ "Đây thôn Vĩ dạ" của Hàn Mặc Tử.

Đây thôn Vĩ dạ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

 Trong 4 câu khổ thơ đầu tiên, người ta bình là có thấp thoáng một 'gương mặt đàn ông' ở câu :"Lá trúc che ngang mặt chữ điền". 
 Một anh bạn ở đơn vị tớ  lại có ý khác hẳn : "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/Lá trúc che ngang mặt chữ điền." ,ý của Hàn Mặc Tử là tả về một Nhà Vườn ở thôn Vĩ, "Lá trúc che ngang mặt chữ điền." đó là tả bóng lá cây trúc in xuống nền sân vuông vắn nằm trước ngôi Nhà Vườn. Tớ đồng ý với giải thích này.
 Nhà Vườn cũng là một đặc trưng nổi bật của Cố Đô Huế? Và tớ đồ là  ngôi nhà ở đó hầu hết là nhà rường?